Công dụng của cây nhót

Như Loan/ VTC News, Theo vtcnews.vn 13:02 12/03/2026
Chia sẻ

Cây nhót không chỉ là loại quả quen thuộc mà còn được dùng làm thuốc trong Đông y, hỗ trợ giảm ho, cầm máu và cải thiện nhiều vấn đề tiêu hóa.

Theo BS.CKII Huỳnh Tấn Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (Cơ sở 3), trong Đông y, nhiều bộ phận của cây nhót như quả, lá và rễ đều có thể sử dụng làm vị thuốc nhờ những đặc tính dược liệu riêng.

Quả nhót vị chua, chát, tính bình, thường được dùng với tác dụng thu liễm, giảm ho suyễn và cầm máu. Dược liệu này còn được áp dụng trong một số trường hợp tiêu hóa kém, kiết lỵ, trĩ loét, băng huyết hoặc sa ruột.

Lá nhót có vị chua, tính bình, được cho là không độc. Trong y học cổ truyền, lá nhót thường dùng cho các chứng liên quan đến phế hư, ho kéo dài, khó thở, ho ra máu hoặc một số tình trạng viêm loét.

Trong khi đó, rễ cây nhót có vị chua, tính bình, được cho là giúp giảm ho, cầm máu và hỗ trợ trừ phong thấp. Rễ nhót cũng được sử dụng trong các trường hợp ho suyễn, xuất huyết tiêu hóa, đau nhức xương khớp, bệnh lý gan mật, tiêu chảy hoặc đau họng.

Công dụng của cây nhót- Ảnh 1.

Quả nhót có vị chua, chát, tính bình, thường được dùng với tác dụng thu liễm, giảm ho suyễn và cầm máu. (Ảnh minh hoạ)

Một số bài thuốc dân gian từ cây nhót

Trong dân gian, cây nhót được sử dụng theo nhiều cách khác nhau tùy mục đích.

Với ho thông thường, có thể dùng khoảng 30 g lá nhót tươi sắc lấy nước, thêm đường uống. Trường hợp ho ra máu hoặc lao phổi, dân gian thường hãm 24 g lá nhót tươi với khoảng 15 g đường trong nước sôi, uống hai lần mỗi ngày sau bữa ăn.

Nếu có vết thương chảy máu hoặc nhọt độc, lá nhót tươi được giã nát rồi đắp trực tiếp lên vùng tổn thương. Khi bị ong đốt hoặc rắn cắn, người dân thường giã lá nhót lấy nước cốt trộn với rượu để uống, phần bã dùng đắp lên vết thương.

Rễ nhót cũng được sử dụng trong nhiều trường hợp. Ví dụ, người bị đau họng, khó nuốt hoặc ho ra máu có thể sắc khoảng 30 g rễ nhót lấy nước uống. Với suyễn do lạnh, rễ nhót thường được sắc cùng đường đỏ rồi dùng sau bữa ăn.

Một số bài thuốc khác cũng được ghi nhận trong kinh nghiệm dân gian. Chẳng hạn, rễ nhót sắc uống có thể dùng trong trường hợp xuất huyết tiêu hóa hoặc kinh nguyệt ra nhiều. Với đau nhức xương khớp do phong thấp, rễ nhót được hầm cùng chân giò và rượu để ăn cả thịt lẫn nước.

Ngoài ra, rễ nhót còn được sắc uống khi có biểu hiện vàng da, hoặc kết hợp đường đỏ dùng cho phụ nữ sau sinh bị đau bụng, tiêu hóa kém.

Lá nhót cũng được sử dụng trong điều trị kiết lỵ, tiêu chảy hoặc viêm đại tràng mạn. Người bệnh có thể dùng 20–30 g lá tươi hoặc 6–12 g lá khô sao vàng sắc nước uống trong một đến hai tuần.

Trong các trường hợp ho nhiều đờm hoặc hen suyễn, lá nhót có thể phối hợp với lá táo chua và hạt cải sao vàng, sắc nước uống trong vài tuần theo kinh nghiệm dân gian.

Ngoài ra, quả nhót cũng được dùng với liều khoảng 6–12 g mỗi ngày dưới dạng sắc, hãm trà hoặc tán bột để hỗ trợ giảm ho, hen và khó thở.

Lưu ý khi sử dụng

Dù có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền, cây nhót vẫn cần được sử dụng thận trọng.

BS Huỳnh Tấn Vũ lưu ý phụ nữ mang thai không nên dùng các bài thuốc từ cây nhót vì có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Khi áp dụng các bài thuốc dân gian, người dân nên tham khảo ý kiến chuyên gia y tế để đảm bảo an toàn và phù hợp với tình trạng sức khỏe.

Theo các chuyên gia, cây nhót là dược liệu quen thuộc trong dân gian. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị có thể khác nhau tùy từng trường hợp, vì vậy việc sử dụng đúng cách và đúng đối tượng là yếu tố quan trọng.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem theo ngày