4 phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2: Đối mặt hình phạt nào?
Nhận định về vụ 4 phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2, chuyên gia luật hình sự Đặng Văn Cường cho rằng, người đang chấp hành án phạt tù mà tự ý bỏ trốn không chỉ vi phạm nội quy trại giam mà còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập.
Sáng 24/10, Lê Văn Cường (SN 1994), một trong 4 phạm nhân trốn khỏi Trại giam A2, đóng tại xã Diên Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã bị cảnh sát bắt giữ trên xe khách khi đi qua quốc lộ 27C đoạn qua xã Nam Khánh Vĩnh, sau hai ngày lẩn trốn.
Trước đó, ngày 21/10, Cường cùng 3 phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam A2, gồm: Hồ Văn Tình (SN 2002, tỉnh Gia Lai), Võ Hoàng Duy (SN 1999, tỉnh Gia Lai), Lữ Văn Toàn (SN 1995, tỉnh Thanh Hóa) đã trốn khỏi nơi giam giữ.

Phạm nhân Lê Văn Cường bị bắt sau khi trốn khỏi Trại giam A2. Ảnh: Công an Khánh Hoà.
Trong đó, Lê Văn Cường hiện đang chấp hành án phạt tù 10 năm về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Hồ Văn Tình đang chấp hành án phạt tù 20 năm về các tội “Giết người” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; Võ Hoàng Duy đang chấp hành án phạt tù 20 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Lữ Văn Toàn đang chấp hành án phạt tù 20 năm về tội “Giết người.”
Ngày 22/10, Trại giam A2 đã ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi “Trốn khỏi nơi giam”, đồng thời ban hành quyết định truy nã đặc biệt đối với 4 phạm nhân.
4 phạm nhân cùng bỏ trốn, có đủ căn cứ xác định phạm tội có tổ chức?
Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, TS.LS Đặng Văn Cường, chuyên gia luật hình sự cho rằng, việc 4 phạm nhân lợi dụng sơ hở trong quá trình lao động cải tạo để trốn khỏi Trại giam A2, về phương diện pháp lý, cần khẳng định rằng người đang chấp hành án phạt tù mà tự ý bỏ trốn không chỉ vi phạm nội quy trại giam mà còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập. Việc đã bị kết án, đang chấp hành hình phạt tù không làm mất đi trách nhiệm của người đó đối với hành vi phạm tội mới phát sinh trong quá trình thi hành án.
Căn cứ trực tiếp để xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ việc này là Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung theo quy định pháp luật hiện hành, về tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử.
Theo khoản 1 Điều 386, người đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khoản 2 Điều này quy định khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm nếu phạm tội có tổ chức hoặc dùng vũ lực đối với người canh gác, người áp giải.
Như vậy, ngay cả khi người bỏ trốn không sử dụng vũ lực, không gây thương tích cho bất kỳ ai và không thực hiện thêm hành vi phạm tội nào khác, việc tự ý rời khỏi nơi giam giữ vẫn có thể cấu thành tội phạm. Bản chất của hành vi này là cố ý thoát khỏi sự quản lý hợp pháp của cơ quan thi hành án hình sự, xâm phạm hoạt động quản lý giam giữ và tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự xã hội.
Đối với vụ việc tại Trại giam A2, thông tin công khai cho biết cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố vụ án về tội trốn khỏi nơi giam theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự. Đây là bước tố tụng nhằm điều tra, làm rõ vụ việc, chưa phải kết luận cuối cùng về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với từng người.
Một vấn đề quan trọng cần làm rõ là việc 4 phạm nhân cùng bỏ trốn có đủ căn cứ xác định phạm tội có tổ chức hay không. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, phạm tội có tổ chức đòi hỏi có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Cơ quan điều tra cần xác minh liệu họ có bàn bạc, thống nhất kế hoạch từ trước, phân công vai trò, chuẩn bị phương tiện hoặc hỗ trợ nhau trong quá trình bỏ trốn hay không. Không thể chỉ căn cứ vào số lượng người cùng bỏ trốn để mặc nhiên áp dụng khoản 2 Điều 386. Ngược lại, nếu chứng cứ cho thấy có sự câu kết chặt chẽ và tổ chức thực hiện hành vi, trách nhiệm hình sự phải được đánh giá tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và vai trò của từng người.
Có thể phải chấp hành thêm hình phạt tù, kéo dài thời gian ở trong trại giam
Một điểm đáng chú ý theo Luật sư Đặng Văn Cường là hiện 4 phạm nhân đang chấp hành án về các tội danh khác nhau, trong đó có những tội đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cần phân biệt hình phạt của bản án trước với hình phạt đối với hành vi trốn khỏi nơi giam giữ.
Việc đang chấp hành án về tội giết người hoặc mua bán trái phép chất ma túy không tự động làm tăng khung hình phạt của tội trốn khỏi nơi giam giữ. Trách nhiệm đối với hành vi mới phải được xác định theo Điều 386 và các quy định liên quan. Nếu có thêm hành vi chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản hoặc hành vi phạm tội khác trong thời gian lẩn trốn, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét trách nhiệm tương ứng nếu đủ căn cứ pháp luật.
Về tổng hợp hình phạt, Điều 56 Bộ luật Hình sự quy định nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trường hợp người đang chấp hành một bản án lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Theo đó, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước theo quy định pháp luật.
Điều này có nghĩa là nếu bị kết án thêm về tội trốn khỏi nơi giam giữ, người phạm tội có thể phải chấp hành hình phạt mới cùng với phần hình phạt còn lại của bản án trước. Thời gian thực tế phải chấp hành án vì vậy có thể kéo dài đáng kể.
Bên cạnh đó, thời gian bỏ trốn không được tính là thời gian thực tế chấp hành hình phạt tù. Việc bỏ trốn cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình xem xét các chế độ giảm thời hạn chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc các chính sách có yêu cầu về kết quả chấp hành án, ý thức cải tạo và điều kiện luật định. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ bỏ trốn, người phạm tội đương nhiên mất vĩnh viễn mọi cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng; từng chế độ phải được xem xét theo quy định pháp luật tương ứng.

TS.LS Đặng Văn Cường, chuyên gia luật hình sự.
Luật sư Cường cho rằng, sau khi bắt giữ trở lại một phạm nhân bỏ trốn, cơ quan chức năng phải thực hiện các thủ tục cần thiết để đưa người đó trở lại sự quản lý của cơ quan thi hành án hình sự, đồng thời tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định tố tụng.
Quá trình điều tra cần làm rõ thời điểm, địa điểm, phương thức bỏ trốn; cách thức các phạm nhân vượt khỏi phạm vi quản lý; việc chuẩn bị, phối hợp giữa những người liên quan; những người đã hỗ trợ hoặc che giấu hành vi bỏ trốn; các hành vi khác phát sinh trong thời gian lẩn trốn. Nếu phát hiện có người bên ngoài cố ý giúp sức, cung cấp phương tiện hoặc tạo điều kiện để phạm nhân trốn thoát, cơ quan điều tra phải xác định bản chất hành vi và xem xét trách nhiệm pháp lý tương ứng.
Việc bị bắt sau nhiều ngày lẩn trốn không tự động làm phát sinh một khung hình phạt cao hơn. Điều quyết định vẫn là các dấu hiệu cấu thành tội phạm, tình tiết định khung và những tình tiết liên quan được chứng minh bằng chứng cứ hợp pháp. Nếu người bỏ trốn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những tình tiết giảm nhẹ khác, các yếu tố đó có thể được xem xét theo quy định của Bộ luật Hình sự. Ngược lại, nếu trong quá trình lẩn trốn họ tiếp tục phạm tội hoặc dùng vũ lực để chống trả lực lượng truy bắt, trách nhiệm đối với những hành vi này phải được xử lý tương ứng.